Sáng ra, tôi lập tức gọi cho gã môi giới.

    Điện thoại vừa thông, giọng hắn đã vang lên sang sảng, đầy tự tin, như thể tôi đang hỏi một câu thừa thãi đến buồn cười:

    “Nhà này tuyệt đối không vấn đề gì! Thứ nhất, chưa từng có ai chết ở đây. Thứ hai, gia đình trước sống ở đây mạnh khỏe, rồi còn sang Nam Dương phát tài nữa. Phong thủy thế thì tốt lắm, sao mà xấu được?”

    Hắn nói liền một mạch, không cho tôi chen vào lấy nửa câu.

    Nghe hắn khẳng định như đinh đóng cột, ban ngày đứng trong sân, nhìn ánh nắng chiếu lên tường gạch xám, tôi lại bắt đầu nghi ngờ chính mình. Sân vẫn là cái sân đó, cửa sổ vẫn trong veo, gió thổi qua mang theo mùi cỏ dại quen thuộc. Không có bóng trẻ con, không có tiếng cười, cũng chẳng có gì bất thường.

    Con người quả thật kỳ lạ.

    Đêm xuống thì sợ đến run rẩy, còn khi ánh mặt trời lên, lại dễ dàng phủ nhận hết thảy, tự trấn an rằng tất cả chỉ là do mình đa nghi.

    “Làm gì có ma quỷ chứ…”

    Tôi lẩm bẩm một câu, vừa như nói với mình, vừa như nói với căn viện.

    Ở nông thôn, láng giềng qua lại vốn là chuyện thường ngày. Nhưng các người phải hiểu… trong cái ngõ này, từ lâu đã chẳng còn ai thực sự là “người” theo đúng nghĩa.

    Đừng nói đến thăm hỏi.

    Ngay đối diện nhà tôi có một bà lão, bát tự yếu đến mức chỉ cần đi ngang nghĩa địa là trông thấy bóng ma, rất dễ bị quỷ xâm. Người trong làng đều biết bà sợ ngõ này, sợ đến mức suốt mười năm không dám bén mảng tới gần. Mỗi lần nhắc đến, bà chỉ lắc đầu lia lịa, miệng lầm rầm:

    “Nơi này dữ lắm… dữ lắm…”

    Ý nghĩ ấy khiến tôi lạnh gáy.

    Nhưng rồi tôi lại tự trấn an: ban ngày mà, có gì đâu.

    Sáng hôm đó, hai lão thợ lại tới làm. Tôi kể vắn tắt chuyện đêm qua, từ tiếng thổi ở giếng trời cho đến hai cái đầu trẻ con áp sát cửa sổ. Một người nghe đến đó thì há miệng định nói gì, nhưng lập tức bị lão già hơn liếc mắt ngăn lại.

    Ông ta hắng giọng, giấu cảm xúc rất kỹ, rồi nói chậm rãi:

    “Anh ra miếu Nương Nương thắp hương đi.”
    “Tốt nhất mua ít vàng mã.”
    “Tối về đốt ở chỗ cái chòi cũ ấy… rồi sẽ yên.”

    Cái cách họ nhìn nhau, tránh né ánh mắt tôi, càng khiến lòng tôi bất an. Rõ ràng là họ biết nhiều hơn những gì họ nói ra.

    Trước khi đi, họ còn dặn thêm một câu:

    “Ban đêm để Tiểu Nhị ngủ cùng.”
    “Nó hỏa khí vượng.”
    “Cho nó trải tạm ổ rơm dưới đất, sẽ ổn.”

    Nghe đến tên Tiểu Nhị, tôi chần chừ một chút. Nhưng nghĩ lại, có người ở cùng vẫn hơn là một mình đối diện với căn viện trống trải này, tôi liền gật đầu.

    Lạ thay, chỉ cần nghĩ đến việc có Tiểu Nhị ngủ chung, tôi lại cảm thấy yên tâm hơn đôi chút.

    Tôi thuê xe ra miếu Nương Nương.

    Thực ra nơi ấy chỉ là một cái am tranh do dân làng tự dựng. Trong thờ chẳng phải Quan Âm hay Vương Mẫu, mà là một thiếu phụ trong làng được thần hóa vì chết trẻ, chết oan. Ấy vậy mà hương khói quanh năm nghi ngút. Ai đau đầu, ai trẻ con khóc dạ đề, ai gặp chuyện không thuận đều tìm đến khấn, đồn rằng linh lắm.

    Bên am có một sạp nhỏ bán giấy vàng, hương nến. Tôi mua liền một mớ lớn, trong lòng nghĩ thà tin còn hơn không. Tiện tay, tôi mua thêm ít bánh kẹo cho Tiểu Nhị, coi như cảm ơn nó chịu ngủ cùng tôi.

    Đêm ấy, tôi đốt vàng mã ngay trên nền cái chòi cũ.

    Lửa bùng lên, giấy tiền cuốn lại, cháy xèo xèo, tro bay lả tả trong gió đêm. Tôi đứng nhìn rất lâu, cho đến khi đống tro tàn chỉ còn lại một vệt đen trên nền đất.

    Sau đó, tôi dắt Tiểu Nhị vào nhà ngủ.

    Nó trải một ổ rơm ngay dưới đất, nằm xuống là ngủ say, tiếng ngáy vang đều đều, nghe đến kỳ lạ. Nghe tiếng ngáy ấy, tôi dần thả lỏng, mí mắt nặng trĩu, rồi thiếp đi lúc nào không hay.

    Không ngờ, vừa chợp mắt, ác mộng liền kéo đến.

    Trong mơ, tôi nghe thấy tiếng “cộc… cộc…” gõ vào cửa sổ.

    Âm thanh quen thuộc khiến tim tôi thót lên.

    Tôi nhìn ra ngoài thì thấy hai đứa trẻ. Vẫn là chúng. Chúng ôm trong tay những nắm tiền giấy, chạy vòng quanh sân, chân trần lạch bạch trên nền đất, vừa chạy vừa cười hì hì. Chúng dừng lại ngoài cửa sổ, vẫy tay gọi tôi, ánh mắt đầy mong chờ.

    Nhưng rồi, sắc mặt cả hai đột ngột đổi sầm.

    Chúng quăng mạnh những tờ giấy xuống đất, tiền giấy bay tung tóe. Hai đứa chống nạnh, miệng mấp máy như đang mắng chửi, ánh mắt oán độc nhìn thẳng vào tôi.

    Chưa kịp hiểu chuyện gì, tôi đã cảm thấy một lực mạnh từ phía sau.

    Cả thân thể tôi như bị xô thẳng xuống.

    Trước mắt tối sầm, tôi rơi tụt vào một vực sâu âm u, không đáy.

    Tôi bàng hoàng choàng tỉnh.

    Trời đã rạng sáng.

    Bên cạnh, Tiểu Nhị vẫn ngủ say, tiếng ngáy vang như sấm. Tôi thở phào, định ngồi dậy rót nước uống cho bớt khô cổ họng, thì bỗng đứng chôn chân tại chỗ.

    Dưới sàn nhà… vương vãi giấy ngũ sắc.

    Tôi cúi xuống nhặt lên một tờ.

    Tim tôi thắt lại.

    Trên đó vẽ rõ hình Thập Điện Diêm Vương, nét bút thô cứng, màu sắc u ám. Rõ ràng… đó chính là mớ giấy tiền tôi đã đốt tối qua!

    Một cảm giác lạnh lẽo chạy dọc sống lưng.

    Liên hệ với giấc mơ, đầu óc tôi tê dại. Chẳng lẽ hai đứa trẻ ấy nổi giận vì tôi “trả” cho chúng tiền giả?

    Căn viện này… e là vướng nghiệp nặng thật rồi.

    Hai lão thợ tới nơi, tôi vội vàng kể lại mọi chuyện. Nghe xong, họ nhìn nhau, sắc mặt tối sầm. Một người ghé sát lại, hạ giọng hỏi:

    “Có phải cậu mua giấy tiền ở thằng hủi bán bên am không?”

    Tôi gật đầu: “Đúng. Đầu nó ghẻ lở đầy.”

    Lão thợ lập tức chửi thề:

    “Đồ thất đức!”
    “Ngay cả tiền của người chết cũng dám làm giả!”

    Họ giải thích rằng gã hủi kia lười nhác, dân làng thương hại nên cho trông am, mỗi tháng chỉ trả ba đến năm trăm đồng. Nhưng hắn tham, tự khắc khuôn in tiền âm phủ giả, đem bán cho người ngoài kiếm lời.

    Đốt tiền giả cho người chết…

    Bảo sao người âm không nổi giận.

    Nghe họ nói đến đây, tôi càng thêm bất an. Tôi thấy họ cứ lấp lửng, tránh né, cuối cùng không nhịn được nữa, bèn hỏi thẳng:

    “Vậy hai đứa trẻ là sao?”
    “Trong nhà tôi… từng có trẻ con chết ư?”

    Hai ông lão lắc đầu, giọng chắc nịch:

    “Căn viện này chưa từng chết người.”

    Tôi chưa kịp thở phào, thì họ đã nói tiếp, giọng trầm xuống:

    “Nhưng hai đứa nhỏ ấy…”
    “Vốn dĩ không phải người.”

    Tôi rùng mình, cổ họng khô rát:

    “Rốt cuộc là thế nào?”

    Hai ông thợ cùng thở dài.

    “Hôm trước bọn tôi đã nhắc.”
    “Năm xưa có hai anh em nghỉ hè đi gặt.”
    “Chúng chui vào đống rơm nghịch rồi ngủ quên.”
    “Đến lúc người ta tìm thấy…”
    “…thì đã ngạt chết trong rơm.”

    Từ đó, thỉnh thoảng có người gặp hai đứa trẻ ấy vào ban đêm. Ngoài chuyện xuất hiện dọa người, chúng cũng chưa từng làm hại ai. Lâu dần, dân làng quen, coi chúng như mèo chó quanh sân, thấy thì thấy, không thấy thì thôi.

    Nghe đến đây, tôi đứng lặng tại chỗ.

    Trong đầu tôi chỉ có một ý nghĩ.

    Nếu những thứ ấy chỉ “đi ngang qua”…

    Vậy rốt cuộc, thứ gì mới là thứ thật sự nằm lại trong căn viện này?

    0 Comments

    Heads up! Your comment will be invisible to other guests and subscribers (except for replies), including you after a grace period.
    Note